Dầu trên biển giảm 65 triệu thùng trong tháng 8: vì sao không thể suy ra kho Việt Nam thiếu hàng
IEA ghi nhận lượng dầu đang trên biển giảm 65 triệu thùng trong tháng 8/2026, góp phần vào mức giảm 95 triệu thùng của tồn kho dầu quan sát được trên toàn cầu. Cùng tháng, tồn kho ngoài OECD giảm còn kho OECD lại tăng. Các con số mô tả những nhóm dự trữ khác nhau; chúng không cho biết trực tiếp một lô hàng đã đến Việt Nam hay mức dự trữ trong nước.

Một phần lớn dầu trong hệ thống cung ứng thế giới không nằm trong bể chứa trên đất liền mà đang ở trên tàu. Trong báo cáo thị trường dầu ngày 11/9, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết lượng dầu trên biển giảm 65 triệu thùng trong tháng 8/2026 khi hoạt động tàu chở dầu ra khỏi Trung Đông chịu thêm các cuộc tấn công. Cùng tháng, tổng tồn kho dầu quan sát được trên toàn cầu giảm 95 triệu thùng. Hai số liệu liên quan nhưng không có nghĩa 65 triệu thùng dầu đã biến mất khỏi tàu hoặc toàn bộ lượng đó đáng lẽ sẽ cập cảng Việt Nam.
Cách IEA chia tồn kho cho thấy bức tranh không đồng đều. Tồn kho tại các nước ngoài OECD giảm 52 triệu thùng, Trung Quốc là một yếu tố chính trong mức giảm này. Ngược lại, tồn kho tại OECD tăng 23 triệu thùng vì lượng tăng trong kho thương mại lớn hơn mức giảm 19 triệu thùng của kho chính phủ. Nếu chỉ nêu tổng thế giới giảm rồi kết luận mọi khu vực đều rút dầu dự trữ thì sẽ bỏ qua hướng biến động trái ngược giữa các nhóm.
Báo cáo cũng đặt tháng 8 trong chuỗi thời gian dài hơn: từ tháng 2 đến hết kỳ quan sát, tồn kho dầu toàn cầu đã giảm tổng cộng 507 triệu thùng, bình quân khoảng 2,8 triệu thùng mỗi ngày. Riêng mức giảm 95 triệu thùng của tháng 8 tương đương khoảng 3,1 triệu thùng mỗi ngày. Đây là số liệu về tồn kho quan sát được và cách cơ quan này tính theo các kỳ; không phải lượng tiêu thụ thêm của Việt Nam, cũng không phải sản lượng khai thác bị đóng cửa trong cùng tháng.
Sự khác biệt giữa dầu thô và nhiên liệu đã lọc càng quan trọng với người theo dõi nguồn cung. IEA ước tính tổng dầu xuất khẩu từ các nước vùng Vịnh trong tháng 8 quanh 13 triệu thùng/ngày, gần bằng một nửa mức trước chiến tranh. Dòng dầu thô được hỗ trợ phần nào bởi tuyến tránh eo Hormuz và hộ tống, trong khi xuất khẩu sản phẩm lọc dầu cùng LPG vẫn thấp hơn tháng 2 gần 60%, tương đương 3,7 triệu thùng/ngày. Bởi vậy, thấy một tàu dầu thô đi được không đủ chứng minh nguồn diesel hoặc LPG đã phục hồi.
Ở Việt Nam, thông báo điều hành xăng dầu ngày 24/9 của Bộ Công Thương nêu yêu cầu theo dõi, kiểm tra trách nhiệm bảo đảm nguồn cung của doanh nghiệp đầu mối và hệ thống phân phối. Đó là một biện pháp quản lý thị trường trong nước. Thông báo ấy không chuyển các số liệu tồn kho toàn cầu của IEA thành mức tồn kho của từng doanh nghiệp Việt Nam, không xác nhận số chuyến tàu cập cảng từ Trung Đông và cũng không chứng minh đã xảy ra thiếu hàng tại một địa phương cụ thể.
Để đánh giá rủi ro cho Việt Nam cần ghép các lớp dữ liệu đúng thời điểm: lịch giao hàng và nguồn nhập của doanh nghiệp, tồn kho trong nước, hoạt động của các nhà máy lọc dầu, cùng các kỳ công bố giá của Bộ. Số dầu trên biển là một chỉ báo về đệm vận chuyển quốc tế, không thay thế những dữ liệu nội địa đó. Báo cáo IEA công bố ngày 11/9 cũng không tự động phản ánh mọi thay đổi của thị trường sau ngày xuất bản. Ảnh tàu dầu ở vịnh Sibolga, Indonesia, được chụp năm 2025 chỉ minh họa loại phương tiện vận chuyển; nó không ghi lại sự cố năm 2026 hay tuyến hàng vào Việt Nam.
프리즘코리아 편집국 > 서유진 · Yujin Seo



